Xây dựng & Kiến trúc

Sản xuất vật liệu xây dựng từ chất thải đô thị hiện nay

Trong bối cảnh gia tăng dân số và tốc độ phát triển kinh tế – xã hội ngày càng cao, lượng chất thải công nghiệp và sinh hoạt ở các khu công nghiệp cũng như đô thị của Việt Nam ngày càng tăng nhanh. Do vậy, việc xử lý chất thải nhằm hạn chế ô nhiễm, đảm bảo môi trường sống xanh – sạch – đẹp đang là vấn đề hết sức cấp bách hiện nay.  Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, tái chế chất thải không chỉ dừng lại ở việc làm phân compost hay đốt phát năng lượng, mà còn được xử lý thành nguyên liệu có ích trong sản xuất vật liệu xây dựng.

san xuat vat lieu xay dung
san xuat vat lieu xay dung

Nguồn nguyên liệu quan trọng sản xuất vật liệu xây dựng xi măng

Theo Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam, hiện nay ở Việt Nam phải thu gom và xử lý 15 triệu tấn rác thải sinh hoạt ở đô thị và nông thôn. Theo thống kê năm 2015, gần 80% lượng rác thải này được xử lý bằng cách chôn lấp và chỉ 20% được xử lý bằng thiêu hoặc tái chế. Song nếu tiếp tục xử lý theo hướng này thì rất khó khăn do thiếu quỹ đất để chôn lấp, nhất là tại các đô thị. Những năm qua, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam, bên cạnh sự tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng chất thải sinh hoạt và chất thải trong quá trình sản xuất, dịch vụ, thương mại, đã gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường, ảnh hưởng xấu đến cảnh quan đô thị, chất lượng sống của cộng đồng và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước.

Việc nghiên cứu tái chế chất thải rắn làm nguyên liệu cho các loại vật liệu xây dựng đã được nhiều cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức khoa học, doanh nghiệp… quan tâm. Ngành vật liệu xây dựng đã nghiên cứu sử dụng các chất thải trong công nghiệp như tro, xỉ, thạch cao từ các nhà máy nhiệt điện, phân bón, hóa chất, luyện gang, luyện thép để sản xuất vật liệu xây dựng và làm phụ gia trong xi măng. Điều này đã góp phần đáng kể trong việc xử lý chất thải rắn, giải quyết vấn đề ô nhiễm, đổ thải, xử lý môi trường cho các nhà máy công nghiệp.

san xuat vat lieu xay dung
san xuat vat lieu xay dung

Ông Thomas Loesche, Giám đốc điều hành Tập đoàn Loesche (Cộng hòa Liên bang Đức), cho biết Loesche đã có kinh nghiệm trên 100 năm về sản xuất máy nghiền để xử lý chất thải rắn đô thị với công suất 50 tấn/giờ. Hiện nay, công nghệ này trở nên phổ biến và công suất 200 tấn/giờ là khả thi. Trong đó, Loesche đã phát triển công nghệ xử lý cho phép bóc tách các thành phần dễ đốt cháy như nhựa, giấy và gỗ. Ngoài ra còn có các máy nghiền xử lý bùn thải lẫn với chất thải rắn đô thị. Đó là giải pháp trộn 40% bùn thải và chất thải rắn đô thị tạo nên một chất hữu cơ có khả năng đốt cháy có chất lượng cao, là vật liệu tốt cho bộ phận tiền calciner trong các nhà máy xi măng ngày nay. Đối với ngành công nghiệp sản xuất xi măng, tận dụng nguồn nhiên liệu sản xuất từ rác thải sẽ góp một phần đáng kể vào việc thay thế một phần nhiên liệu truyền thống trong sản xuất xi măng, giải quyết vấn đề bức xúc hiện nay về nhiên liệu, từ đó tiết kiệm được chi phí đầu vào, hạ giá thành sản phẩm và tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn trên thị trường.

Lợi ích kép

Nhiều ý kiến của các chuyên gia cho rằng, chất thải rắn sinh hoạt nếu không được thu gom hợp lý sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng, làm mất cảnh quan, làm ô nhiễm và suy thoái môi trường. Nhiều loại chất thải nguy hại từ sinh hoạt có thể tồn tại lâu trong môi trường, tồn dư trong nông sản, thực phẩm, nguồn nước và có khả năng gây ra các bệnh nguy hiểm đối với con người. Chất thải sinh hoạt khi không được thu gom và xử lý đúng cách cũng sẽ trở thành nguồn gây ô nhiễm nguồn nước. Nước mưa, nước từ rác thải theo dòng chảy đi vào các nguồn nước mặt làm ô nhiễm nước mặt, hoặc ngấm xuống đất làm ô nhiễm nước ngầm. Thông thường sẽ mang vi sinh vật gây bệnh, kim loại nặng, chất hữu cơ… từ rác thải vào nguồn nước. Chính vì vậy mà ở nước ta hiện nay, quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt là một vấn đề rất quan trọng và cấp thiết. Trước những thách thức ngày một lớn từ lượng rác thải ngày càng nhiều, việc ứng dụng khoa học – công nghệ để xử lý được xem là biện pháp tối ưu nhất hiện nay.

Hiện nay, cả nước có khoảng 82 dây chuyền xi măng, tổng công suất thiết kế là 97 triệu tấn/năm, đến năm 2020 đạt 130 triệu tấn/năm, đến năm 2030 sẽ là 139 triệu tấn/năm. Như vậy, nhu cầu nguyên liệu để sản xuất xi măng là rất lớn, nếu có thể tái chế chất thải công nghiệp làm nhiên liệu thay thế cho sản xuất xi măng sẽ góp phần mang lại hiệu quả lợi ích to lớn trong việc bảo vệ môi trường cũng như tiết kiệm được tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo phát triển bền vững cho đất nước.

san xuat vat lieu xay dung
san xuat vat lieu xay dung

6 Vấn đề trọng tâm trong sản xuất vật liệu xây dựng

Vật liệu xây dựng được coi là cầu nối của ngành công nghiệp-xây dựng. Sản xuất vật liệu xây dựng hiện có một số vấn đề cần quan tâm.

Vấn đề thứ nhất, vừa là kết quả tích cực, vừa là vấn đề hiện nay, là tốc độ tăng của vật liệu xây dựng (VLXD) nhìn chung cao hơn tốc độ tăng giá trị sản xuất của ngành Xây dựng.

Theo đó, chỉ trừ một vài loại VLXD tăng thấp do không còn phù hợp hoặc đã được thay thế bằng một loại vật liệu khác, còn đều tăng cao hơn tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành Xây dựng. Tốc độ tăng của sản xuất VLXD đã đáp ứng được nhu cầu xây dựng ở trong nước và có một phần được dùng để xuất khẩu. Chủng loại, mẫu mã VLXD đã đa dạng, phong phú hơn, đẹp hơn; chất lượng một số loại đã được nâng lên.

Tuy nhiên, cũng có lúc sản xuất đã vượt nhu cầu, khối lượng nhập khẩu một số loại VLXD cũng còn lớn, nhất là một số vật liệu cơ bản như sắt, thép, gạch lát, đồ nội thất và thị trường bất động sản đóng băng kéo dài, đã làm cho cung vượt cầu, nên lượng tiêu thụ VLXD bị giảm, làm cho lượng sản phẩm sản xuất một vài năm nay bị sụt giảm theo. Cụ thể: gạch nung năm 2011 giảm 1,6%; thép cán năm 2011 giảm 3,9%, năm 2012 giảm 5,5%; xi măng năm 2012 giảm 3,1%,…

Vấn đề thứ hai, hầu hết các doanh nghiệp không khai thác hết năng lực sản xuất, tỷ lệ sử dụng công suất thấp. Theo Tiến sĩ Trần Văn Huynh, Chủ tịch Hội VLXD Việt Nam, tỷ lệ sử dụng công suất của kính xây dựng chỉ đạt dưới 50%, vật liệu không nung dưới 55%, gốm sứ dưới 70%, xi măng dưới 80%… Trong khi một số cơ sở sản xuất VLXD chưa sử dụng hết công suất thì một số cơ sở mới ra đời chẳng những sản xuất gặp khó khăn, mà còn bị nặng nợ bởi vốn đầu tư xây dựng…

Vấn đề thứ ba liên quan đến quy mô và thiết bị công nghệ. Bên cạnh một số nhà máy có quy mô lớn, thiết bị công nghệ tiên tiến, thì phần lớn các nhà máy sản xuất VLXD khác có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên liệu, tiêu tốn nhiều năng lượng, gây ô nhiễm môi trường, hiệu quả và sức cạnh tranh với hàng ngoại nhập thấp, trong khi lao động có giá rẻ hơn, không phải mất chi phí vận chuyển từ nước ngoài về…

Vấn đề thứ tư là bảo vệ môi trường chưa được đặc biệt quan tâm, không chỉ ở công nghệ tiêu hao nhiên liệu như trên, mà còn là việc chậm sử dụng VLXD không nung thay thế cho gạch xây bằng đất nung, ngói nung… (đến năm 2012 vẫn còn sản xuất tới trên 19 tỷ viên gạch đất nung; 5 tháng 2013 tuy có giảm 2,9% so với cùng kỳ nhưng vẫn lên tới gần 6,6 tỷ viên; ngói nung năm 2012 vẫn còn sản xuất trên 560 triệu viên). Việc khai thác cát (không chỉ dùng ở trong nước mà cả xuất khẩu), sỏi, đá cuội… mỗi năm lên đến trên dưới 60 triệu m3, nhưng do việc quản lý chưa tốt đã gây sạt lở ở không ít vùng.

5 9

Vấn đề thứ năm là vấn đề quy hoạch. VLXD là ngành sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, quá trình khai thác, sản xuất… dễ gây tác động xấu đến môi trường, nên quy hoạch là vấn đề rất quan trọng. Quy hoạch chung của cả nước chưa đủ chi tiết, quy hoạch ở một số địa phương hoặc chưa có hoặc có nhưng còn chồng chéo với quy hoạch của cả nước; có quy hoạch rồi nhưng chưa phát triển theo quy hoạch.

Vấn đề thứ sáu, trong 5 tháng đầu năm 2013, sản xuất VLXD nói chung đã tăng lên với tốc độ cao hơn của toàn ngành (như xi măng tăng 7,4%, thép cán tăng 17,4%, thép thanh, thép góc tăng 7,4%…). Điều này có thể là do các nhà sản xuất VLXD tăng sản xuất để đón thời cơ khi ngành xây dựng, thị trường bất động sản có tín hiệu khả quan hơn. Đây cũng là điều mừng cho doanh nghiệp và lao động đang làm việc trong các lĩnh vực nói trên. Tuy nhiên, cần quan tâm đến việc tái cơ cấu ngành này từ quy hoạch, công nghệ, hiệu quả và sức cạnh tranh để không bị hàng nhập khẩu chiếm thị phần.

Từ khóa:

  • Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng la gì
  • Ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
  • Sản xuất vật liệu xây dựng la gì
  • Các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng cao cấp tập trung tài
  • Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng phân bố ở
  • đầu
  • Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng tập trung chủ yếu ở vùng
  • Nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng

Nội dung liên quan:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button